-
-
-
Tổng tiền thanh toán:
-
Trong nghệ thuật thưởng trà, phẩm cấp của một dòng trà xanh được quyết định ngay từ tiêu chuẩn hái. Đối với dòng trà Nõn Tôm thượng hạng, tiêu chuẩn được áp dụng là “1 tôm 1 lá” (một búp và một lá non liền kề búp). Hoặc “1 tôm 2 lá” đối với một số phân hạng như Trà Nõn Tôm 4 sao, tức là hái một búp non và hai lá non liền kề. Đây là một trong những dòng trà xanh Thái Nguyên bán chạy của Danh Trà.
Trà ngon nhất là hái vào khoảng giữa tháng 3, khoảng sau dịp tết Nguyên Đán. Khi thời tiết bắt đầu ấm, thì cây trà bắt đầu “thức giấc” qua mấy tháng nghỉ đông. Hàng loạt búp trà non bắt đầu trổ đều trên luống trà. Người hái trà sẽ chọn búp mập nhất, rồi một hay vài lá non kế tiếp để hái. Độ non và múp của lá chính là dấu hiệu của lượng axit amin cao, tạo nên hương vị “cốm non” đặc trưng.
Nguyên liệu của dòng trà nõn tôm được thu hái hoàn toàn thủ công vào lúc sáng sớm. Khi mà sương đêm vẫn còn đọng trên mặt lá. Dòng trà này được hái vùng trà đặc sản Tân Cương. Nơi đây không chỉ là nơi trồng trà đầu tiên ở Thái Nguyên, mà còn có thổ nhưỡng và tiểu khí hậu đặc trưng riêng, giúp tạo nên cá tính riêng biệt cho trà.
Địa hình Tân Cương là dạng “bồn địa, ven sông, sương mù đay đặc”. Tức là nơi đây nằm trong thung lũng nhỏ cạnh dãy Tam Đảo. Rồi thêm sông Công chảy qua, tạo ra một lòng chảo khép kín với độ cao khoảng 100 – 150m so với mực nước biển. Nhưng lại được bao bọc bởi núi thấp và đồi. Cứ vào mỗi sáng sớm thì hơi nước từ sông bốc lên, rồi gặp không khí lạnh núi cao tạo thành mây mù dày đặc bao phủ đồi trà.
Sương dày giúp tạo nên một lớp che nắng tự nhiên cho cây trà. Nhờ vậy mà cây trà quang hợp chậm, tích lũy nhiều amico acid, giảm tannin, cho ra vị ngọt ngậy đặc trưng. Kết hợp với việc chỉ chuyên tâm hái lá non, thì Trà Nõn Tôm thành phẩm luôn có độ ngọt thơm cao.
Sau công đoạn sao suốt thủ công, cánh trà Nõn Tôm mang một hình thái rất đặc trưng: nhỏ, xoăn chặt và cong tít như hình móc câu. Đây là kết quả của động tác vò – sao tạo hình tỉ mỉ dưới nhiệt độ cao. Cánh trà có màu xanh đen tự nhiên, phủ một lớp xám bạc nhẹ. Lớp xám bạc nhẹ này là kết quả của quá trình “đánh mốc” hay còn gọi là “đánh hương” truyền thống của nước ta.
Ngày từ lúc mở gói trà, một mùi hương vừa bùi ngậy, vừa ngọt, vừa tươi mới sẽ ập vào mũi của bạn. Tráng ấm xong, bạn nên cho một nắm lá trà vào ấm, đậy nắp rồi lắc nhẹ trà trong ấm, rồi lại mở nắp ngửi miệng ấm. Bạn sẽ thấy một mùi hương ấm áp ngọt ngào bùng lên cùng hơi ẩm. Hương của cốm non, của hạt dẻ rang. Không một chút khói của lửa, không mùi trà nồng nặc của trà tẩm. Hương trà chỉ vừa đủ và tự nhiên.
Nước trà sau khi pha có màu vàng xanh trong trẻo. Rót trà ra chiếc tống thuỷ tinh, chất trà lởn vởn trong nước nhưng không đục nước. Đây không phải là bụi bẩn, những thành phần lơ lửng màu trắng chính là phần mô búp non vỡ ra hòa vào nước. Búp và lá trà nõn tôm rất non và mềm, nên khi vò và sao suốt thì các tế bào chứa chất dinh dưỡng dễ bị phá vỡ lớp màng ngoài. Khi pha thì phần “thịt” này sẽ hoà nước, tạo độ ngon và độ sánh của chén trà. Trà ngon khi rót vào tách rồi lắc nhẹ sẽ thấy nước trà sóng sánh.
Thường các nơi lạm dụng câu “tiền đắng, hậu ngọt”. Nhưng phẩm trà đặc sản như nõn tôm thì đắng chỉ là phụ. Khi uống vào thì trà có hơi đắng, nhưng vị rõ ràng hơn chính là vị ngon, hay cái tên quốc tế hơn là umami. Nếu chỉ đắng thì chẳng ai uống trà làm gì, mà người ta thèm thuồng chính là cái vị umami này. Khi nuốt xong thì nước bọt ở miệng lại úa ra, tạo cảm giác sảng khoái và ngòn ngọt ở miệng. Cứ thế là tạo cảm giác thèm, và muốn uống nữa.
Quy trình truyền thống trà Nõn Tôm đã được truyền từ nhiều đời đến nay gồm các công đoạn cốt lõi: thu hái, làm héo, diệt men, vò, rũ tơi, sao khô, và đánh hương.
Điểm đặc sắc nhất nằm ở khâu sao diệt men trên chảo gang bằng lửa củi và đánh hương. Ở công đoạn ốp hay diệt men, người làm trà đảo trà liên tục trong chảo nóng già (khoảng 200-300°C), giúp “diệt” enzyme hay men gây oxy hóa lá trà. Trà càng non như nõn tôm thì lại cần ốp thật già lửa và dứt khoát. Vì nước trong lá non nhiều, không sao nhiệt cao và thoát hơi nhanh, thì trà sẽ ngái như trà “hấp” chứ không còn thơm giòn như trà “sao” nữa. Chưa kể lá non chứa cực kỳ nhiều “men”, không diệt mạnh thì men sẽ chết không kịp.
Còn công đoạn “đánh hương” (đánh mốc) cuối cùng chỉ còn khoảng 80-90°C, kéo dài khoảng hơn 10 phút đến một giờ nhằm cố định hương thơm. Đây là công đoạn sao sấy nhẹ nhàng. Sấy đến tận lõi nhưng không cháy, giữ được sắc xanh tươi và hương cốm qua nhiều tháng. Nguyên lý này chính là phản ứng Maillard như ở rang cà phê, giúp trà vừa dậy mùi hạt rang, vừa cố định tinh dầu hương trong từng thớ trà.
Đây đều là những công đoạn chế biếm trà truyền thống. Không chỉ áp dụng cho trà nõn tôm mà còn cho các dòng trà khác như trà móc câu, trà đinh, và các loại trà Tân Cương Thái Nguyên khác.
Nước: nước tốt thì trà ngon. Trà nõn tôm thì cần nước sạch và nhẹ. Nhẹ ở đây là ít khoáng. Nên dùng nước tinh khiết, nước máy đã lọc. Nước RO cũng được nhưng trà dễ xít đắng, không nên hãm quá lâu. Nên dùng bình đun điện, nước sôi là tự ngắt. Mở nắp bình đun tầm 10 phút cho nước nguội về 80 đến 85 độ là đẹp. Có thể đầu tư ấm đun có hiện nhiệt độ thì càng tốt.
Ấm chén: nên dùng ấm gốm có tráng men, hoặc ấm sứ. Có thể dùng ấm đất không tráng men như ấm tử sa nếu có điều kiện. Uống kiểu Việt Nam thì mua ấm dung tích khoảng 500ml, còn thích pha kiểu công phu thì ấm tầm 100 đến 150ml.
Trà Nõn Tôm thuộc dòng trà xanh nhạy cảm với nhiệt và ẩm. Nên đựng trà trong túi nhôm hút chân không, túi zip hoặc hũ thiếc. Không nên dùng hũ sứ (không đủ kín) hay hũ thuỷ tinh (ánh sáng lọt vào). Nếu dùng hũ sứ thì nắp phải có vòng đệm cao su, hoặc dạng nắp vặn (bằng thiếc). Để túi hoặc hũ trà nơi khô ráo và thoáng mát.
Có thể bảo quản ngăn mát tủ lạnh chuyên dụng ở 0-5°C, bọc kín chống ẩm. Tuyệt đối tránh xa các loại trà hay thực phẩm có mùi mạnh.
Sau khi dùng thì dùng tay bóp hết không khí ra khỏi túi. Gấp miệng túi vài vòng, rồi dùng kẹp hồ sơ hoặc dây thun để cố định miệng túi lại. Nếu sử dụng túi zip thì cũng nên làm vậy, vì đôi khi khoá zip bị yếu hoặc tay khoá không đủ chặt.
Trà được hái và sản xuất từ những đồi trà ở có chỉ dẫn địa lý trà Tân Cương. Không sử dụng bột đá tạo màu, không hương liệu nhân tạo, không chất bảo quản. Hương cốm, vị ngọt bùi, màu xanh nõn của nước trà hoàn toàn đến từ cốt cách tự nhiên của cây trà.